Thứ 6 - 26/02/2016
​Công an nhân dân "Vì nước quên thân vì dân phục vụ " - "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" - "Chấp hành nghiêm điều lệnh, xây dựng nếp sống văn hóa vì nhân dân phục vụ".
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử
Trước tình hình tội phạm sử dụng công nghệ cao ngày càng diễn biến phức tạp, xâm phạm nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội. Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 đã có những sửa đổi, bổ sung quan trọng về chế định chứng cứ và chứng minh, là chế định quan trọng mà các cơ quan tố tụng dựa vào đó để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Nổi bật hơn cả là việc quy định nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử, một nguồn chứng cứ hoàn toàn mới, nhằm ứng phó kịp thời với các tội phạm sử dụng công nghệ cao. Trong phạm vi bài viết này, tác giả tập trung vào những điểm mới của BLTTHS 2015 về nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử trong các tội phạm sử dụng công nghệ cao.
Ảnh minh họa.
Ảnh minh họa.

1. Sự cần thiết phải quy định dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ
Thứ nhất, trên lĩnh vực an ninh quốc gia, các thế lực thù địch đã không ngừng tập trung lợi dụng công nghệ thông tin, mạng viễn thông để xuyên tạc, vu khống chống phá Nhà nước. Trên lĩnh vực trật tự, an toàn xã hội, tình hình an ninh mạng Việt Nam diễn biến phức tạp, nhiều vụ tấn công, phá hoại, lây nhiễm virus, phầm mềm gián điệp, mã tin học độc hại nhằm vào hệ thống mạng của cơ quan nhà nước và tư nhân với mức độ, tính chất ngày càng nghiêm trọng; tình hình lừa đảo trong lĩnh vực thương mại điện tử và thanh toán điện tử gia tăng, làm rối loạn hoạt động của hệ thống thông tin điện tử.
Thứ hai, tội phạm thược lĩnh vực công nghệ thông tin tuy đã được quy định trong Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1999 nhưng BLTTHS năm 2003 lại không hề đề cập đến nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử, một nguồn quan trọng để xác định hành vi phạm tội và là cơ sở để xử lý tội phạm. Vì vậy đã gây rất nhiều khó khăn trong việc điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự liên quan đến lĩnh vực này. Do không có quy định rõ ràng trong cách thức thu thập, bảo quản nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử nên dễ dấn đến sự tùy tiện của cơ quan điều tra trong quá trình thu thập, thậm chí xâm phạm đến các quyền cơ bản của công dân như quyền được đảm bảo an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của cá nhân. Ngoài ra, việc thiếu quy định cũng dẫn đến khó khăn trong việc hợp thức hóa các nguồn chứng cứ thành chứng cứ, gây lúng túng cho cơ quan điều tra và kéo dài thời hạn điều tra không cần thiết do phải đợi chỉ đạo từ cấp trên. Bên cạnh đó việc quyết định truy tố của Viện kiểm sát, việc xét xử của Tòa án cũng gặp không ít khó khăn do không có cơ sở rõ ràng. Đây là một đòi hỏi cấp thiết trong việc quy định dữ liệu điện tử là một nguồn chứng cứ cũng như quy định về quá trình thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ là dữ liệu điện tử, góp phần đảm bảo cho quá trình tố tụng hình sự được diễn ra nhanh chóng theo đúng quy định của pháp luật, tạo cơ sở để cơ quan và người tiến hành tố tụng truy tố đúng người, đúng tội và không bỏ lọt tội phạm.
2. Nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử
Theo quy định tại Điều 86 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì: “Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án”. Và tại Điều 87 thì nguồn chứng cứ gồm: “Vật chứng; Lời khai, lời trình bày; Dữ liệu điện tử; Kết luận giám định, định giá tài sản; Biên bản trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; Kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế khác; Các tài liệu, đồ vật khác”.
Còn theo quy định tại Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì “Dữ liệu điện tử là ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự được tạo ra, lưu trữ, truyền đi hoặc nhận được bởi phương tiện điện tử”. Các đối tượng phạm tội thông qua hoạt động phạm tội của mình đã để lại những dấu vết dưới dạng “dữ liệu điện tử” trong các phương tiện điện tử, mạng máy tính, mạng viễn thông, trên đường truyền và các nguồn điện tử khác đã được sử dụng như là công cụ, phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội. Nội dung thông tin được phản ánh trong dữ liệu này hoàn toàn có giá trị chứng minh tội phạm. Thông qua biện pháp khoa học - kỹ thuật, cơ quan tiến hành tố tụng và các chuyên gia sử dụng thiết bị kỹ thuật, công nghệ chuyên dụng hiện đại có thể tìm kiếm, ghi nhận, phân tích thông tin thu thập được trên các dữ liệu điện tử và sử dụng chúng làm chứng cứ. Về bản chất, dữ liệu điện tử tồn tại dưới dạng ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh âm thanh hoặc dạng tương tự được tạo ra, lưu trữ, truyền đi hoặc nhận được bởi phương tiện điện tử.
Những dữ liệu điện tử này có thể được dùng để chứng minh hành vi phạm tội, có thể sử dụng công nghệ và thủ tục pháp lý để sử dụng làm chứng cứ. Tuy nhiện do dữ liệu điện tử có đặc điểm dễ bị xóa, bị sửa, bị thay đổi khi mở, kiểm tra, lưu thông không đúng cách, bị nhiễm virus, mã hóa khi truyền qua mạng, nên Luật Giao dịch điện tử (GDĐT) đã quy định những điều kiện để thông điệp dữ liệu có giá trị pháp lý như chứng từ, hồ sơ “truyền thống”, khi đáp ứng được những yêu cầu của pháp luật. Tương tự như giá trị làm chứng cứ của dữ liệu điện tử trong Luật GDĐT, khoản 3, Điều 99 BLTTHS 2015 quy định: “Giá trị chứng cứ của dữ liệu điện tử được xác định căn cứ vào cách thức khởi tạo, lưu trữ hoặc truyền gửi dữ liệu điện tử; cách thức bảo đảm và duy trì tính toàn vẹn của dữ liệu điện tử; cách thức xác định người khởi tạo và các yếu tố phù hợp khác” để dữ liệu điện tử có giá trị chứng minh trong vụ án hình sự.
Cũng giống như các loại nguồn chứng cứ khác, để sử dụng làm chứng cứ theo quy định thì nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử cần thiết phải đảm bảo ba thuộc tính:
Tính khách quan: Dữ liệu này có thật, tồn tại khách quan, có nguồn gốc rõ ràng, không bị làm cho sai lệnh, biến dạng, đã được tìm thấy và được lưu trữ trong chính khuôn dạng mà nó được khởi tạo, gửi nhận hoặc trong khuôn dạng cho phép thể hiện chính xác nội dung dữ liệu đó hoặc được lưu trữ theo một cách thức nhất định cho phép xác định nguồn gốc khởi tạo, nơi đến, ngày giờ gửi hoặc nhận thông điệp dữ liệu.
Tính liên quan: Phải có liên quan đến vụ án mới có khả năng làm rõ những vấn đề cần chứng minh và do đó mới được coi là chứng cứ. Tính liên quan của dữ liệu được thể hiện ở nhiều khía cạnh, quá trình hình thành, tồn tại của dữ liệu điện tử phải liên quan đến hành vi phạm tội; thời gian, địa điểm phạm tội; quy luật, nguyên lý để lại dấu vết điện tử…;
Tính hợp pháp: Thể hiện ở chỗ dữ liệu điện tử dùng làm chứng cứ phải được phát hiện, thu thập theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Cơ quan tiến hành tố tụng và các chuyên gia thu thập dữ liệu bằng các biện pháp do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định. Khi thu thập dữ liệu phải tuân thủ quy định của pháp luật về căn cứ, thẩm quyền, trình tự, thủ tục, thời hạn thu thập dữ liệu và khi sử dụng dữ liệu phải chú ý kiểm tra tính hợp pháp của biện pháp thu thập.
Chứng cứ dữ liệu điện tử phải được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS (ảnh internet).
Chứng cứ dữ liệu điện tử phải được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS (ảnh internet).

3. Về thu thập, thu giữ nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử
BLTTHS 2015 đã đưa thêm dữ liệu điện tử vào nội dung của hoạt động thu thập chứng cứ của hai nhóm chủ thể bao gồm cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng khác, cơ quan, tổ chức hoặc bất cứ cá nhân nào. Theo đó thì những chủ thể trên có quyền thu thập chứng cứ là dữ liệu điện tử để phục vụ cho quá trình chứng minh vụ án. BLTTHS 2015 cũng đã có một bước tiến quan trọng trong việc cho phép người bào chữa, bị hại, người làm chứng và những người khác biết về vụ án để hỏi, nghe họ trình bày về những vấn đề liên quan đến vụ án. Trong khi tại BLTTHS 2003, người bào chữa cũng có quyền gặp những chủ thể trên nhưng không được quyền thu thập chứng cứ mà chỉ được quyền thu thập nguồn chứng cứ là các tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa của mình. Đây rõ ràng là những quy định tiến bộ, mở rộng gần như tối đa thẩm quyền thu thập chứng cứ của người bào chữa giúp họ có đầy đủ quyền hạn để thực hiện tốt trách nhiệm của mình với vai trò là một bên trong quá trình tranh tụng, góp phần đảm bảo nguyên tắc tranh tụng trong khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử.
Sau khi thu thập nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng ra quyết định trưng cầu giám định. Khi đó thì cá nhân, tổ chức có trách nhiệm thực hiện việc phục hồi, tìm kiếm, giám định dữ liệu điện tử nhưng không phải bằng cách nào cũng được mà chỉ được thực hiện trên bản sao; kết quả phục hồi, tìm kiếm, giám định phải chuyển sang dạng có thể đọc, nghe, hoặc nhìn được như in dữ liệu điện tử ra giấy (dạng doc, pdf, ppt…), in ảnh, in video clip vào đĩa quang, USB, ổ cứng…Việc giám định dữ liệu điện tử là một hoạt động giám định tư pháp, được điều chỉnh bởi Luật giám định tư pháp năm 2012. Đây là việc sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật nghiệp vụ để kết luận chuyên môn về những vấn đề có liên quan đến vụ án hình sự, hành chính, vụ việc dân sự, do người giám định tư pháp thực hiện theo trưng cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, phục vụ cho việc giải quyết vụ án. Tuy nhiến, đến nay chỉ mới có các giám định viên được bổ nhiệm trong lĩnh vực pháp y, pháp y tâm thần, kỹ thuật hình sự, tài chính, ngân hàng, xây dựng, cổ vật, di vật, bản quyền tác giả… nhưng chưa có giám định pháp y về lĩnh vực dữ liệu điện tử. Hơn nữa, để giám định dữ liệu điện tử cần có thiết bị,công nghệ phù hợp, được pháp luật công nhận để tiến hành.
4. Về bảo quản chứng cứ là dữ liệu điện tử
BLTTHS 2015 quy định phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử được bảo quản như vật chứng. Căn cứ vào Điều 107 và Điều 196 BLTTHS, hai điều luật quy định về thu thập và thu giữ phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử thì không thể thu giữ được phương tiện lưu trữ dữ liệu điện tử thì phải sao lưu vào phương tiện điện tử và ngược lại, sau đó thì tiến hành bảo quản như đối với vật chứng. Nghĩa là phương tiện điện tử, phương tiện lưu trữ dữ liệu điện tử sau khi được thu giữ phải được niêm phong theo đúng quy định của pháp luật và phải bảo quản tính nguyên vẹn, sau đó đưa về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Còn phương tiện điện tử, phương tiện lưu trữ dữ liệu điện tử gốc mà không thể đưa về cơ quan tiến hành tố tụng để bảo quản thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng giao cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp đồ vật, tài sản hoặc người thân thích của họ hoặc chính quyền địa phương, cơ quan, tổ chức nơi có vật chứng bảo quản.
5. Về thu thập bí mật dữ liệu điện tử
Các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt (Điều 223) lần đầu tiên được thừa nhận trong BLTTHS 2015 mặc dù biện pháp điều tra đặc biệt mới chỉ đề cập có tính nguyên tắc trong các luật chuyên ngành như Luật An ninh quốc gia, Luật Phòng, chống ma túy và giao cho Chính phủ quy định cụ thể. Trong khi đó, các biện pháp này đã được quy định trong Công ước của Liên hợp quốc về phòng chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia và Công ước Liên hợp quốc và phòng chống tham nhũng. Vì vậy việc cho phép người có thẩm quyền tiến hành tố tụng được quyền tiến hành các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt nói chung và quyền thu thập bí mật dữ liệu điện tử nói riêng đã mở ra nhiều cơ hội để có thể thu thập được nguồn chứng cứ có giá trị chứng minh tội phạm trực tiếp bởi trước đây các cơ quan tiến hành tố tụng thường gặp không ít khó khăn trong việc chuyển hóa chứng cứ để được pháp luật công nhận.
Tóm lại, so với BLTTHS 2003 thì BLTTHS 2015 đã có những sửa đổi quan trọng về chứng cứ và chứng minh, giúp cho quá trình tố tụng được diễn ra nhanh chóng khách quan và toàn diện hơn. Việc bổ sung dữ liệu điện tử làm chứng cứ đã thể hiện một bước tiến đáng kể, tuy nhiên để quy định này đi vào cuộc sống, một loạt các vấn đề sẽ phát sinh từ liên quan bảo quản, thu thập, thu giữ đến hoạt động giám định viên về dữ liệu điện tử cũng cần phải tính đến. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi có một mong muốn đó là góp một phần công sức của mình vào việc làm rõ hơn nữa lý luận về chứng cứ điện tử, cũng như những biện pháp thu giữ, xác lập loại chứng cứ này góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh đối với tội phạm sử dụng công nghệ cao để thực hiện hành vi phạm tội.
Nguyễn Doanh – Phòng Tham mưu

công an TỈNH ĐỒNG NAI

Địa chị: 161, Phạm Văn Thuận, Tân Tiến, Biên Hòa, Đồng Nai.

Điện thoại: 0251 8820999​

Email:  congan@dongnai.gov.vn

Website: congan.dongnai.gov.vn​
® Ghi rõ nguồn "congan.dongnai.gov.vn" khi phát hành lại thông tin từ Website này.​​